Những giải pháp mang tính chiến lược cho nghệ thuật truyền thống

Nhiều năm nay, câu chuyện tồn tại và phát triển của nghệ thuật truyền thống trong xã hội đương đại luôn là bài toán khó, không chỉ đối với các thế hệ nghệ sĩ mà cả những nhà quản lý văn hóa. Thực tế, nghệ thuật truyền thống cũng đã được quan tâm nhưng dường như những “viên ngọc quý” vẫn chưa thực sự tỏa sáng.

Nói về sự tồn tại của nghệ thuật truyền thống, đặc biệt như: Tuồng, Chèo, Cải lương… trong cơ chế thị trường, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự bấp bênh, èo uột. Nguyên nhân đơn giản, vì nghệ thuật truyền thống không thể cạnh tranh với hằng hà sa số những loại hình nghệ thuật giải trí hiện đại đang tràn ngập trên thị trường hiện nay. Không còn thời kỳ hoàng kim, người người kéo nhau đến rạp hay xếp hàng mua vé xem các buổi biểu diễn khi các đoàn nghệ thuật truyền thống về làng.

Các đơn vị nghệ thuật truyền thống từ Trung ương đến địa phương, từ công lập đến ngoài công lập đều gặp khó khăn trong hoạt động biểu diễn, đặc biệt là khó khăn về kinh phí. Điểm qua các nhà hát, những đêm diễn đỏ đèn mang tên các môn nghệ thuật này cũng vô cùng thưa thớt. Có chăng những đêm diễn của Tuồng, Chèo, Cải lương… hầu như đều miễn phí hoặc có thì giá vé cũng chỉ mang tính tượng trưng. Ấy thế mà người xem cũng rất khiêm tốn. Khán giả không mấy mặn mà với nghệ thuật truyền thống nên thực tế các nghệ sĩ hầu hết không sống được bằng nghề. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho một vài loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ “chết yểu” do không có lực lượng kế cận.

Nghệ thuật Chèo mang nhiều nét đẹp dân gian.

Vấn đề nguồn lực kế cận cho nghệ thuật truyền thống từ lâu vẫn luôn là bài toán khó chưa có lời giải. Đây cũng là một trong những yếu tố khó khăn nhất để bảo tồn và phát triển những bộ môn văn hóa đặc sắc của dân tộc. Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội là đơn vị đào tạo các bộ môn nghệ thuật truyền thống hàng đầu của nước ta cũng gặp phải sự khó khăn của công tác tuyển sinh cho ngành Kịch hát dân tộc. Từ 10 – 15 năm trở lại đây, bộ môn Chèo và Cải lương mặc dù có đông thí sinh đăng ký dự thi hơn cả (so với bộ môn Tuồng, Nhạc công…) nhưng nhiều nhất cũng chỉ là con số 15. Để bảo đảm đầu vào, nhà trường và các nhà hát nhiều năm phải xuống các địa phương để tìm nguồn tuyển nhưng số lượng thí sinh đăng ký ngày càng ít.

Có em giọng rất tốt, thanh, sắc đều được, nhưng gia đình dứt khoát không đồng ý, bởi họ lo sợ nghệ sĩ theo nghệ thuật truyền thống thì nghèo. Không những thế, thực tế các em khi ra trường chỉ có khoảng 50 – 60% làm nghề. Thực trạng này tạo nên hồi chuông báo động về nguy cơ mai một tiến tới “xóa sổ” nghệ thuật sân khấu truyền thống nếu không gấp rút đào tạo nguồn nhân lực kế cận.  Vì vậy, nếu không có những ưu đãi đặc biệt và cơ chế đặc thù thì nghệ thuật truyền thống khó có thể hút được thí sinh. Chưa kể đến, sau khi ra trường và đầu quân về các đơn vị nghệ thuật, đội ngũ diễn viên trẻ cũng gặp phải rất nhiều khó khăn như vấn đề tiền lương, trợ cấp nghề, nhà ở… nên cũng khó có thể yên tâm gắn bó.

Thực tế, cơ chế và những ưu đãi của Nhà nước đối với các nghệ sĩ theo nghệ thuật truyền thống đã có từ nhiều năm nay như: Giảm học phí trong đào tạo, tạo đầu ra, hỗ trợ kinh phí học tập, nâng cao trình độ và các chính sách ưu tiên khác… Bên cạnh đó, những năm gần đây, để tạo điều kiện cho nghệ thuật truyền thống tồn tại và phát triển, các sở, ban, ngành cùng chung tay xây dựng mô hình liên kết du lịch với nghệ thuật được áp dụng rất hiệu quả ở nhiều nơi. Những vở diễn sân khấu chất lượng đã được thường xuyên tổ chức biểu diễn, giới thiệu đến khán giả trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, phải thừa nhận một điều rằng, chúng ta vẫn chưa có nhiều tác phẩm đỉnh cao, thực sự chất lượng để đáp ứng nhu cầu cũng như thị hiếu khán giả. Do đó, việc “trải thảm đỏ” để hút các thí sinh vẫn không mấy hiệu quả.

Một thực trạng nữa, đó là, việc tạo thương hiệu của các đơn vị nghệ thuật truyền thống còn hạn chế bởi không có rạp biểu diễn, công tác quảng cáo chưa thực sự được quan tâm. Một số đơn vị có rạp biểu diễn như Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Tuồng Việt Nam, Liên đoàn Xiếc Việt Nam… bước đầu đã tạo dựng được thương hiệu với những chương trình định kỳ, tạo được điểm đến thường xuyên khi công chúng muốn thưởng thức loại hình nghệ thuật của mình. Ví dụ, chương trình Chiếu Chèo (tối thứ 6 hàng tuần) của Nhà hát Chèo Việt Nam đã được duy trì từ năm 2013 đến nay và chương trình âm nhạc Năm Cung Chèo (tối thứ 4 hàng tuần) đã được duy trì từ cuối năm 2018.

Mặc dù có nhiều chương trình phải bù lỗ nhưng đã tạo thói quen cho khán giả biết về lịch biểu diễn thường kỳ của Nhà hát. Đó là ưu thế của những Nhà hát có rạp biểu diễn riêng. Còn đối với những Nhà hát không có rạp biểu diễn riêng, việc hình thành các chương trình định kỳ như vậy quả là rất khó khăn bởi còn vướng mắc nhiều vấn đề về nguồn kinh phí thuê địa điểm, liệu có thu đủ để bù chi khi mà doanh thu bán vé còn rất bấp bênh. Bên cạnh đó, vấn đề quảng bá hình ảnh của các Nhà hát chưa thực sự được quan tâm.

Trong thời đại của công nghệ, chúng ta cần biết tận dụng những thế mạnh của internet để kết nối với khán giả. Việc lập ra website, fanpage, kênh youtube riêng là điều cần thiết. Nhưng cần thiết hơn là phải có đội ngũ làm marketing chất lượng, có tư duy và biết cách thu hút khán giả đến với Nhà hát. Đây cũng là một khó khăn nữa dành cho các Nhà hát bởi để có được nguồn nhân lực làm công việc này hoàn toàn không phải dễ. Do đó có nhiều Nhà hát có website, fanpage, kênh youtube riêng nhưng nội dung quảng bá rất nghèo nàn, chưa có sự đầu tư bài bản. Điều đó cũng khiến khán giả khó có cơ hội được tiếp cận, tìm hiểu và quan tâm đến các chương trình biểu diễn của các Nhà hát truyền thống.

Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, trong thời đại mở cửa, không chỉ nghệ thuật truyền thống phải đương đầu với khó khăn, thách thức mà các loại hình nghệ thuật khác cũng vậy. Nếu như chỉ đổ tại cơ chế, ỷ lại những ưu đãi của Nhà nước mà các nghệ sĩ không tâm huyết, nỗ lực vươn lên thì chắc chắn nghệ thuật truyền thống, những “viên ngọc quý” của dân tộc sẽ không thể tỏa sáng được.

Trong cơ chế thị trường, dù phải cạnh tranh khốc liệt, nhưng nếu như cùng với các chính sách ưu đãi của Nhà nước, các nghệ sĩ phát huy tính năng động, sáng tạo, nỗ lực tìm tòi, tâm huyết xây dựng những tác phẩm thực sự chất lượng thì những tác phẩm đó không chỉ là “bảo bối” mang lại thu nhập, thương hiệu, mà sẽ còn tạo thêm nguồn cảm hứng sáng tạo và sức sống cho nghệ sĩ, cho đơn vị nghệ thuật và chắc chắn, nghệ thuật truyền thống sẽ có những khởi sắc, thực sự là những “viên ngọc quý”, là niềm tự hào của dân tộc.

Vở “Hoàng thúc Lý Long Tường” của Nhà hát Chèo Bắc Giang.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, để bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị của nghệ thuật truyền thống là việc làm không thể nóng vội, một sớm một chiều mà thành công. Với kinh nghiệm của hơn 40 năm trong nghề, xuất phát từ vị trí của một diễn viên cho đến vị trí của một người làm quản lý, người chỉ đạo nghệ thuật của một Nhà hát truyền thống hàng đầu của Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước, của nghề từ khi hoàng kim đến lúc thoái trào và gặp nhiều khó khăn như hiện nay, tôi xin đề xuất một số chính sách mà Nhà nước cần dành cho nghệ thuật truyền thống như sau:

– Một là: Cần phải đặt văn hóa, đặc biệt là văn hóa truyền thống, nghệ thuật truyền thống về đúng vị thế “soi đường cho quốc dân đi”, thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước;

– Hai là: Ngành Văn hóa và ngành Giáo dục cùng phối hợp để đưa văn hóa, nghệ thuật truyền thống là một phần quan trọng của công tác giáo dục, cụ thể ở đây là đưa việc học một số môn nghệ thuật truyền thống vào nhà trường từ bậc tiểu học như là một môn học chính thức. Việc làm này vừa tạo được sự gắn kết giữa nghệ thuật truyền thống với thế hệ trẻ, vừa là tiền đề để tìm ra những tài năng nghệ thuật cho tương lai, kịp thời có những định hướng nghề nghiệp cho các con từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường.

– Ba là: Cần có thiết chế “Cứng” từ Nhà nước để kết hợp chặt chẽ Văn hóa truyền thống với Du lịch, cụ thể ở đây là Tổng Cục Du lịch và bên dưới là các Sở theo ngành dọc, các công ty Du lịch. Thay vì việc các Nhà hát phải loay hoay tìm đối tác và vướng mắc về cơ chế “phần trăm doanh thu”, các cấp chính quyền có liên quan sẽ chỉ đạo trực tiếp công tác phối hợp làm việc này. Thiết chế này sẽ giúp cho các đơn vị nghệ thuật có “đất sống”, chỉ việc tập trung nâng cao chất lượng nghệ thuật phục vụ du khách.

– Bốn là: Đầu tư kinh phí hàng năm cho văn hóa truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật truyền thống trong công tác truyền thông, quảng bá các hoạt động của đơn vị được đến gần hơn với bạn bè trong nước và quốc tế, đặc biệt là với giới trẻ (quảng cáo thông qua các kênh mạng xã hội lớn như Youtube, facebook, Instagram, Twitter,… hoặc các cụm rạp CGV, Lotte là nơi mà giới trẻ quan tâm và thường xuyên lui tới).

– Năm là: Tạo cơ chế ưu đãi đặc biệt cho nghệ sĩ làm nghệ thuật truyền thống (ví dụ như tăng hệ số lương khởi điểm, tăng trợ cấp thanh sắc…) để nghệ sĩ yên tâm làm nghề, tránh tình trạng “chân ngoài dài hơn chân trong”, nghệ sĩ phải vì miếng cơm manh áo mà làm mai một nghề hoặc bỏ nghề, đặc biệt là đối tượng nghệ sĩ trẻ mới vào nghề.

– Sáu là: Bảo trợ cho nghệ thuật truyền thống, cụ thể như hỗ trợ nghiên cứu phục dựng các trích đoạn cổ, các vở diễn cổ, coi đây là các sản phẩm do Nhà nước chi trả đặt hàng để làm tốt công tác bảo tồn, gìn giữ, đồng thời có thể quảng bá những chương trình mang yếu tố “văn hóa thuần Việt” tới du khách trong nước và quốc tế thông qua các chương trình biểu diễn, giao lưu văn hóa; hỗ trợ với mục tiêu tạo một điểm diễn thường xuyên của các loại hình nghệ thuật truyền thống để tạo thói quen thưởng thức nghệ thuật cho khán giả.

Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế tạo nên nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có thách thức về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc, mà cụ thể ở đây là nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Muốn nghệ thuật truyền thống được trở về với thời hoàng kim của nó, hoặc chí ít, là được tồn tại và phát triển một cách bền vững, thì đòi hỏi các nhà làm chính sách phải thực sự tận tâm, tận lực để tham mưu những cơ chế khả thi, hữu ích nhất cho Nhà nước. Bên cạnh đó, các nhà quản lý văn hóa, các nghệ sĩ cũng cần vững tâm, nhiệt huyết để đồng lòng cùng Nhà nước vì một mục tiêu chung, đó là “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Có như thế, nghệ thuật truyền thống mới sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt và sẽ mãi là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi công dân trên mảnh đất hình chữ S.

NSND Thanh Ngoan

Tags: #Nhà hát chèo Việt Nam#NSND Thanh Ngoan