Nhân xem vở “Làm vua” bàn về sự hư cấu trong tuồng lịch sử

Nghiên cứu lịch sử là tìm sự chân thực, sáng tác Tuồng lịch sử là tìm cái tương tự sự việc đã qua. Sáng tác Tuồng không phải là mô phỏng nhân vật, sao chép lịch sử. Khi sáng tác thường phải trung thành với sự thực lịch sử, nhưng cũng không làm mất đi sự ngẫu nhiên, hư cấu một số tình tiết và chi tiết tất yếu, thông qua sự “việc đã qua” để tìm cái tương tự, chỉ có như vậy mới phản ánh được bản chất chân thực của lịch sử.

Nhà sử học Phan Huy Lê từng nói: “Hư cấu là một đặc trưng và một sức mạnh của sân khấu biểu hiện tính sáng tạo của nghệ thuật. Nhưng vấn đề ở chỗ hư cấu như thế nào để không ngược lại tính chân thật lịch sử, mà trái lại nâng cao tính chân thật lịch sử lên trình độ nghệ thuật với những hình tượng sinh động, những nhân vật giàu cá tính và sức sống, với chiều sâu của cuộc sống mà sử học không thể viết lên được.”

Trong vở tuồng Làm vua (tác giả: TS Nguyễn Đăng Chương, tác giả chuyển thể: Sỹ Chức, đạo diễn: NSND Hoài Huệ) của Nhà hát Tuồng Việt Nam, nhóm ê kíp đã thể hiện nhân tố “trong thực có hư”, “trong hư có thực” để ca ngợi Đinh Bộ Lĩnh đã dùng tài trí của mình dẹp loạn các sứ quân, chuyển vận được thời cuộc, xây dựng triều nhà Đinh và sự hy sinh của vua Đinh, Dương Vân Nga, Lê Hoàn nhằm ổn định triều cương, chống lại các thế lực thù địch bên ngoài, giữ vững nền Tự chủ cho nước Đại Việt.

Với vở tuồng Làm vua, nhóm ê kíp tác giả Đăng Chương, đạo diễn Hoài Huệ đã “táo bạo” khi khai thác những yếu tố tương truyền trong dân gian về tình duyên của ba nhân vật lớn trong lịch sử: Đinh Tiên Hoàng, Dương Vân Nga, Lê Hoàn. Thông qua câu chuyện ngoài chính sử về mối quan hệ kiểu tam giác của Đinh Bộ Lĩnh, Dương Vân Nga và Lê Hoàn để nói lên sự hy sinh của một người đứng đầu đất nước, chống lại các thế lực thù địch trong và ngoài Đại Việt, vừa dẹp loạn trong nước và chống lại quân Tống, quân Xiêm lăm le xâm lấn bờ cõi Đại Việt, để giữ vững triều đình và bảo vệ toàn vẹn non sông lãnh thổ.

Việc xây dựng các nhân vật Đinh Tiên hoàng, Dương Vân Nga, Lê Hoàn và mối tình duyên giữa Dương Vân Nga và Lê Hoàn trước khi bà được đưa vào cung vua Đinh cho thấy, nhóm sáng tạo không muốn bị bó hẹp trong sự thực lịch sử thông thường mà kết hợp giữa hoàn cảnh lịch sử cụ thể và các chi tiết tương truyền trong dân gian để hư cấu lên tình tiết mang tính hoang đường.

Đó là xây dựng mối tình của Lê Hoàn với Dương Vân Nga trước khi bà được đưa vào cung làm Hoàng hậu của vua Đinh, nhằm hình tượng hóa, lý giải sự kiện Thái hậu Dương Vân Nga trao áo bào cho Lê Hoàn và làm thái hậu của vua Lê Đại Hành sau khi vua Đinh mất. Ở cảnh 6 của vở diễn Làm vua, hình ảnh Dương Vân Nga lấy áo long cổn (tức áo Hoàng bào) khoác lên mình Lê Hoàn và khuyên bảo Lê Hoàn mạnh mẽ tiến bước trước quần thần và dân chúng Đại Việt, thể hiện sự đồng tình suy tôn Lê Hoàn làm vua.

Đây cũng là cảnh kết thúc của vở tuồng thể hiện sự hy sinh vì nghĩa cả của các nhân vật, Đinh Bộ Lĩnh mất, Dương Vân Nga, Lê Hoàn thực hiện lệnh của vua Đinh tái hợp mối tình duyên và cùng với quân dân Đại Việt chống lại quân Tống xâm lăng. Ở đây nhóm sáng tạo muốn minh oan cho Thái hậu Dương Vân Nga và trả lại phẩm giá của một người phụ nữ hy sinh vì nước, bà không vì ngôi báu của con và địa vị Thái hậu làm ảnh hưởng đến sự an nguy của Đại Việt.

Hành động của Dương Vân Nga có lợi cho nước, cho dân và thực tế trong lịch sử Thái hậu Dương Vân Nga không có lỗi, bà lấy Lê Hoàn vào năm 981, nghĩa là hơn 2 năm sau khi vua Đinh Tiên Hoàng bị giết hại. Bản thân nhân vật Dương Vân Nga trong Làm vua cũng luôn giữ đạo cương thường, dù có duyên với Lê Hoàn trước nhưng sau khi trở thành Hoàng hậu của vua Đinh, cả bà và Lê Hoàn đều cư xử đúng mực với nghĩa bề tôi và bậc mẫu nghi thiên hạ – Thái hậu.

Khi vua Đinh biết chuyện tình duyên dang dở giữa bà và Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, nhà vua đã muốn tác hợp cho hai người, nhưng bà từ chối, thậm chí nếu nhà vua cương quyết bà còn muốn xuất gia, gửi thân nơi cửa Phật. Nhưng sau khi vua Đinh Tiên Hoàng mất, con trai mới có 6 tuổi được tôn làm vua, các đại thần trong triều lần lượt bị giết hại, bên ngoài thì quân Tống cất quân sang xâm lược, giữa lúc thân cô, thế mỏng, nhà vua còn nhỏ tuổi, bà đã trao áo long cổn cho Lê Hoàn và ông đã xuất quân, chỉ huy quân lính đánh lại quân Tống.

Bên cạnh về mối quan hệ tam giác giữa vua Đinh, Dương Vân Nga, Lê Hoàn, vở diễn còn có một sự kiện nữa thể hiện “dùng hư tả thực” nói về sự kiện Ngô Nhật Khánh phản bội đất nước và hủy dung nhan công chúa Phất Kim. Có lẽ trong vở tuồng Làm vua, người được cho là vật hy sinh có số phận bi đát và kết cục thảm thương nhất là công chúa Phất Kim.

Nàng là con của vua Đinh và vì để yên ổn cục diện, nên đã lấy Ngô Nhật Khánh. Ba cha con vua Đinh đã lấy ba mẹ con họ Ngô và lập bà họ Ngô làm hoàng hậu, còn Đinh Liễn và Phất Kim đều lấy con của Hoàng hậu họ Ngô, nhưng sự hy sinh ấy vẫn không làm yên lòng những kẻ muốn tranh giành quyền lực. Đinh Liễn và cha Đinh Tiên Hoàng bị tên gia hầu Đỗ Thích giết hại, còn Phất Kim nàng là lá ngọc cành vàng được gả cho Ngô Nhật Khánh.

Mối nhân duyên không được xây dựng bằng tình yêu mà trói buộc bởi những mưu toan, âm mưu chính trị. Cuối cùng Ngô Nhật Khánh thông đồng với Tống và Xiêm La để xâm lấn Đại Việt, còn Phất Kim dù nàng không yêu nhưng vẫn làm tròn bổn phận “xuất giá tòng phu” theo chồng đi thuyền ra biển. Trên đường đi, Ngô Nhật Khánh lộ rõ bản chất đê hèn, bán nước cầu vinh và phản bội lòng tin của Phất Kim. Cuối cùng thân gái dặm trường, lênh đênh trên biển, nàng bị Nhật Khánh sai người đánh, làm hỏng khuôn mặt xinh đẹp.

Có thể nói, vở tuồng Làm vua đã tuân thủ nghiêm ngặt tính chất tự sự, ước lệ của nghệ thuật Tuồng, nhưng thành công nhất trong việc chuyển hoá mô hình từ Tuồng cổ phải kể đến lớp “Công chúa Phất Kim bị hại” ở cảnh 6 của vở diễn. Ở lớp Tuồng này, đạo diễn Hoài Huệ đã chuyển hoá từ lớp “Hồ Nguyệt Cô hóa cáo” sang lớp “Phất Kim bị hại” vô cùng “đắt”, đậm chất Tuồng, có thể đạt tới lớp diễn mẫu mực của Tuồng.

Sân khấu bắt đầu mở ra cảnh trên đường đi, thuyền của công chúa Phất Kim và Ngô Nhật Khánh tiến vào châu Hoan, châu Ái, mọi việc diễn ra khi gió đổi chiều, thuyền xoay hướng, Ngô Nhật Khánh phản bội lại nước, cấu kết với Tống và Xiêm la, quay sang đánh đập và hành hạ công chúa khi nàng can ngăn chồng.

Sự chuyển hóa mô hình này tạo đất diễn cho diễn viên Thanh Thu phát huy khả năng, biểu diễn đầy sự thăng hoa, lột tả được tâm trạng, nỗi đau của Phất Kim. Ở đây ta thấy có nỗi đau về tinh thần, nỗi đau bị giày xéo tâm can vì bị chồng phản bội và nỗi đau về thể xác vì bị hủy hoại dung nhan của Phất Kim.

Nguyệt Cô bị Tiết Giao phản bội lấy đi viên ngọc, nàng biến thành cáo, tiếng kêu đau đớn đến xé lòng của Nguyệt Cô dường như đã thấy ở nhân vật Phất Kim, Nguyệt Cô nhìn xuống nước thấy khuôn mặt mình biến thành cáo, còn Phất Kim quằn quại đau đớn khi dung nhan bị hủy trên con thuyền giữa dòng nước mênh mông.

Biểu diễn của nghệ sĩ Thanh Phương (vai công chúa Phất Kim) đã cho thấy sự chuyển hóa mô hình về nghệ thuật biểu diễn từ vai Nguyệt Cô sang công chúa Phất Kim là sự kết hợp ăn ý, nhuần nhuyễn của ê kíp sáng tạo (tác giả, tác giả chuyển thể, đạo diễn, thiết kế mĩ thuật, âm thanh, ánh sáng, diễn viên).

Phất Kim đau đớn trong tuyệt vọng khi nhận ra người chồng dù không yêu, nhưng vẫn tin tưởng, lấy để làm yên lòng cha, giữ vững nghiệp nhà Đinh, nhưng đã phản bội lại lòng tin của mình, cha mình và triều đình nhà Đinh, làm nội gián cho quân Tống và quân Xiêm tiến vào đánh Đại Việt. Lòng tin của Phất Kim đặt nhầm chỗ, tin tưởng tuyệt đối vào đức lang quân của mình để rồi nhận ra kẻ thù ở ngay bên cạnh mình mà không biết.

Mô típ câu chuyện này không mới, nhưng nhóm êkíp đã mượn câu chuyện để nhấn mạnh về sự hy sinh vì nghĩa lớn. Đinh Bộ Lĩnh hy sinh hai con của mình để lấy con Hoàng hậu họ Ngô nhằm củng cố lực lượng, ổn định triều cương, nhưng rồi hai người con của ông không có kết cục tốt đẹp.

Đinh Liễn thì bị tên gia nô giết chết, còn nàng công chúa Phất Kim bị chính người chồng của mình đánh đập, huỷ hoại dung nhan và trở thành công cụ chính trị, làm bàn đạp của Ngô Nhật Khánh để hắn ta lấy lòng, che mắt vua Đinh, làm nội gián cho quân Tống và quân Xiêm tiến vào xâm chiếm Đại Việt.

 Ở cuối lớp diễn, trong sự dày xéo, đánh đập của các quân lính chèo thuyền và tiếng hô hoán, ra lệnh cho quân lính giết nàng của Nhật Khánh, diễn viên Thanh Phương đã biểu diễn hàng loạt động tác của Tuồng như lăn, lê, xiến… chuyền từ chỗ này sang chỗ khác giống như quả bóng bị lăn trong không gian nhỏ hẹp trên chiếc thuyền, đã cho thấy sự đớn đau chuyển biến tâm trạng của nhân vật.

Sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhóm sáng tạo vở diễn, từ sự biểu diễn của diễn viên, âm thanh, đến thiết kế mĩ thuật cảnh sông nước với những con sóng nhấp nhô đầy tính chất ước lệ, đặc biệt là lớp Phất Kim ngồi trên chiếc thuyền (các mái chèo) và giãy giụa trong đau đớn rồi nằm sõng soài trên các mái chèo giữa hai hàng phu chèo thuyền là sự kết hợp hệ thống động tác ước lệ của Tuồng bao gồm hát, diễn, múa Tuồng và trang trí phụ hoạ cho nhời.

Các cảnh núi sông, cảnh biểu diễn chèo thuyền của phu thuyền, quân lính và khuôn mặt đầy máu me, sự quằn quại đau đớn của Phất Kim…. đậm chất ước lệ của Tuồng, tạo cho diễn viên Thanh Phương lột tả được sự chuyển biến tâm trạng của Phất Kim đi từ vui tươi khi háo hức đi vùng đất mới (Hoan Ái, Hoan Châu), đến thất vọng vì nhận ra người chồng bội bạc, phản bội lại lòng tin của công chúa và triều đình, để rồi cuối cùng nàng quằn quại trong đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần.

Con thuyền được ước lệ hoá bằng các mái chèo mang bao hoài bão, ước mơ, hy vọng của một nàng công chúa cành vàng lá ngọc, và chính con thuyền ấy lại dìm chết hy vọng người con gái ngây thơ, thật thà ấy. Hình ảnh cuối cùng của lớp diễn công chúa Phất Kim ngồi trên các mái chèo của các phu thuyền đã khiến cho người xem cảm nhận sự đớn đau của thân phận người con gái trong xã hội phong kiến.

Phất Kim nằm sõng soài trên thuyền tiến dần về phía bờ biển Đại Việt trong tiếng hò đưa linh thể hiện sự cô độc, chơi vơi giữa dòng của cô công chúa. Nàng sống mà dường như đã chết, sự đớn đau của công chúa Phất Kim phản ánh được sự tàn khốc của chiến tranh, sự lầm than của nhân dân khi đất nước có giặc ngoại xâm.

Sự đau đớn, tàn tạ của công chúa Phất Kim đã khiến Đinh Bộ Lĩnh tỉnh ngộ, nhà vua nhận ra sai lầm khi chỉ nghĩ đến sự hy sinh của con người để bảo vệ đất nước. Sau khi dẹp loạn các sứ quân, nhà vua chỉ nghĩ đến việc mở rộng thế lực, lập 5 bà Hoàng hậu, phế con trưởng lập con thứ, chỉ nghĩ lập nước và bảo vệ đất nước, mà không nghĩ đến việc xây dựng đất nước.

Dựng nước cũng như dựng nhà, nói như các nhà sử học “Triều Ngô là người xây nền móng, triều Đinh là người dựng cột và triều Lê là người xây tường và lợp mái” cho ngôi nhà Đại Việt, mái nhà có yên không chỉ có cai trị bằng pháp luật, hình phạt mà phải xây dựng lòng tin từ nhân dân. Chính vì hình phạt hà khắc và bắt nhiều người hy sinh để rồi cuối cùng cha con Đinh Bộ Lĩnh cũng bị kẻ bề tôi, gia đinh (Đỗ Thích) giết chết.

Trong vở diễn Làm vua tuy có một số chi tiết hư cấu, nhưng xuyên suốt là sự hy sinh của vua Đinh Tiên Hoàng, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân Nga, Đinh Liễn, Phất Kim… Sự hy sinh ấy đã mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ Tự chủ (Ngô Vương Quyền xưng đế, Đinh Tiên Hoàng xưng đế, Lê Đại Hành sau khi đánh lui nhà Tống và kết tình giao hảo với Tống) của nước ta.

Sáng tạo Tuồng đề tài lịch sử là hình thức sân khấu, thường lấy sự kiện, nhân vật lịch sử làm đối tượng miêu tả. Người viết cần nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt những tài liệu lịch sử một cách đầy đủ, chính xác và cũng có thể lược bỏ chi tiết không điển hình, hoặc trên cơ sở hiện thực lịch sử, tác giả có quyền tưởng tượng, hư cấu theo các quy luật của sự sáng tạo nghệ thuật, nhưng không nằm ngoài phạm vi lịch sử thời bấy giờ, nhằm làm cho hình tượng nhân vật sinh động hơn.

Do vậy, hai sự kiện trong vở diễn Làm vua, ê kíp sáng tạo đã để cho Lê Hoàn và Dương Vân Nga có mối duyên tình trai gái, thề non hẹn biển trước khi bà được đưa vào cung làm Hoàng hậu của vua Đinh và nhà vua muốn tác hợp cho Dương Vân Nga tái hợp với Lê Hoàn, thực chất là để hợp thức hoá với sự kiện lịch sử Dương Vân Nga làm Hoàng hậu của vua Lê Đại Hành sau này.

Kiểu kết cấu “trong hư có thực, trong thực có hư” trong vở tuồng Làm vua chỉ đơn thuần là để cho sự thống nhất giữa tình tiết trong Tuồng và tính cách nhân vật, nâng hình tượng lên thành nhân vật điển hình, lý tưởng hóa. Sự khác biệt giữa hình tượng nhân vật lịch sử với nhân vật Tuồng dường như đã mở ra cự ly giữa nhân vật Tuồng và nhân vật lịch sử. Sự trùng khớp giữa họ thể hiện sự nỗ lực của nhóm ê kíp truy cầu sự thống nhất giữa chân thực lịch sử và sự chân thực nghệ thuật tạo thành hình tượng sân khấu.

Nguyễn Thị Thanh Vân

Tags: #Dương Vân Nga#Đinh Bộ Lĩnh#Làm vua#Nhà hát tuồng Việt Nam